Vụ án ấn tín toà giải tội

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012
Vũ Văn An


Lúc cha Timothy Mockaitis nghe tù nhân Conan Wayne Hale xưng tội vào ngày 22 tháng Tư năm 1996, cha đâu ngờ lần xưng tội ấy bị thu thanh. Cha cũng không biết biến cố ấy lại tạo ra một nố luật lệ chưa từng có muốn chứng minh rằng vi phạm ấn tòa giải tội là vi phạm điều khoản tự do thực hành tôn giáo được Tu Chính Án Thứ Nhất của Hiến Pháp Hiệp Chúng Quốc bảo đảm. 

Cha Mockaitis đã cho biết chi tiết về biến cố trên trong cuốn sách mới đây của cha tựa là “Ấn Tòa: Câu Truyện của một Linh Mục” (The Seal: A Priest’s Story). Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Hãng Tin Zenit ngày 30 tháng Tám vừa qua, cha trình bày rằng trường hợp này không những liên quan tới giáo luật và luật dân sự, mà còn là một đe doạ đối với sự sống còn về lâu về dài của các quyền tự do theo Hiến Pháp. 

Bạn đọc nên biết, chính cha đã đưa vấn đề này ra kiện trước pháp luật để ngăn cản việc tiết lộ nội dung buổi xưng tội. Cha cho hay cha dựa chủ yếu vào Tu Chính Án Thứ Nhất và Thứ Bốn, liên quan tới tự do tôn giáo và quyền được che chở chống việc bị tìm kiếm và tịch thu bất hợp pháp. Cha cũng đòi được hưởng quyền dân sự trong việc bảo vệ sự tư riêng (privacy), không những cho Giáo Hội mà còn cho cả hối nhân nữa. Đồng thời, cha cũng phản kháng về phương diện luân lý và đạo đức, cho rằng hành vi nhà nước xâm phạm đặc thù và cố tình này là một biến cố không bao giờ có thể dùng sự thiện tốt hơn mà biện minh được. 



Tính toàn vẹn của cả Hiến Pháp lẫn việc giải thích rõ rệt của Giáo Luật và truyền thống lâu đời của Giáo Hội về tính tối mật của ấn tòa giải tội đều được trình bày đầy đủ trong vụ kiện. Đây là lần đầu tiên, một cố gắng đã được đưa ra trước tòa án để xác định nguyên tắc: vi phạm ấn tòa giải tội là vi phạm Tu Chính Án Thứ Nhất. 

Cha cũng cho hay luật pháp Hoa Kỳ vốn bảo vệ nguyên tắc có thể gọi là đặc quyền linh mục và hối nhân (priest-penitent privilege) giống như đặc quyền luật sư và khách hàng (attorney-client privilege). Cả hai đặc quyền này đều dựa vào thường luật hay luật tập tục (common law). Các nhà chức trách dân sự biết đây là một bí tích của Giáo Hội và họ đã bí mật ghi âm nó vì nó là bí tích ấy; họ đã cả gan vượt quá lằn ranh giữa các giá trị của Giáo Hội và nhà nước. 

Theo cha, tại Oregon cho đến năm 1996, nếu một bên, trong trường hợp này là linh mục hay hối nhân, muốn tiết lộ một tin tức gì đó, thì bên kia không có quyền phản đối, dù muốn duy trì đặc quyền. Tuy nhiên, cả hối nhân lẫn cha Mockaitis trong tư cách cha giải tội đều không biết gì tới việc ghi âm. Đến khi nghe được hành vi lén lút với sự chấp thuận của chánh án địa phương, thì tòa đã ban hành và ký giấy cho phép các nhà chấp pháp địa phương được nghe nội dung cuộn băng. Trong tư cách linh mục và cha giải tội, tôi bị ngăn cản không được yêu cầu việc ngưng hành động nghe trên. Bởi thế, ngay từ đầu, rõ ràng đặc quyền linh mục và hối nhân đã bị vi phạm. Chúng tôi đòi phải tức khắc hủy bỏ cuộn băng và các bản ghi lại cuộn băng ấy. 

Một điều đáng ghi nhận là vì vụ kiện này, khoảng hai năm sau khi tranh biện, tiểu bang Oregon lại lặp lại đặc quyền linh mục và hối nhân để bảo vệ bất cứ linh mục nào hay thành phần nào của một hàng giáo sĩ muốn đòi quyền miễn nhiễm khỏi phải ra làm chứng công khai nếu linh mục ấy hay tổ chức tôn giáo của ngài muốn bảo toàn sự riêng tư. Ấn tòa giải tội chắc chắn thỏa mãn các tiêu chuẩn này. 

Trả lời câu hỏi liệu có tiền lệ nào trong đó ấn tòa giải tội bị vi phạm chưa, cha Mockaitis cho hay: tại quốc gia này, chưa có biến cố nào được mô tả là “ấn tín” đã được nêu ra trước một tòa án. William F. Buckley cho rằng hành động vi phạm này là hành động hoàn toàn có tính phát-xít, khó mà tưởng tượng được. Nên cha không tin việc nghe lóm các câu truyện giữa linh mục và các hối nhân sẽ gia tăng trong tương lai. Tuy nhiên, việc tiết lộ sự thật và các giới hạn mà luật lệ cho phép giữa các thẩm quyền dân sự và hàng giáo sĩ đang bị đẩy xuống mức càng ngày càng nhỏ nhoi đi. Thí dụ, mới mấy năm trước đây thôi, tiểu bang Connecticut gần như đã thông qua một đạo luật buộc các linh mục phải tường trình một vài tội ác từng được tiết lộ trong toà giải tội. Gương mù gương xấu đáng đau buồn về việc các linh mục lạm dụng tình dục mới đây càng làm cho lòng tin vào tính đáng tin cậy của nghề nghiệp ít được luật lệ bảo vệ hơn. Ấy thế nhưng đối với cha Mockaitis, trong nhiều trường hợp, việc tìm tòi sự thật đã vượt quá lòng kính trọng nghề nghiệp và những cuộc điều tra hợp lý đã càng ngày càng đạt tới mức quá xâm phạm và bất kính. 

Về lý do tại sao lại có ấn tòa giải tội trong khi ngày xưa các hối nhân xưng tội công khai, cha Mockaitis cho rằng ấn tòa giải tội được biện minh một cách đầy đủ nhất qua việc bảo vệ toàn vẹn tính của bí tích hòa giải cũng như sự an toàn và lòng tôn trọng đối với hối nhân. Dù trong các thế kỷ đầu của lịch sử Kitô Giáo, chúng ta vốn có việc nghe hối nhân công khai nhìn nhận các tội lỗi của mình và làm việc đền tội trước mặt mọi người, nhưng vẫn có người e ngại về đời tư của mình bị phao đồn, bàn tán. Bởi thế mới có ấn tín tòa giải tội để bảo đảm rằng bất cứ điều gì được trao đổi giữa linh mục và hối nhân mãi mãi phải được giữ bí mật. Biết được điều ấy, hối nhân sẽ hoàn toàn tin tưởng nói hết và nói trung thực về những chiến đấu gay go của họ với tội lỗi. Ấn tín tạo ra một môi trường trong đó, hối nhân sẵn sàng đón nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa từ nhân. 

Có người cho rằng vì công ích, tại sao lại không tiết lộ bí mật ở tòa giải tội? Há các linh mục đã không khích lệ các phạm nhân tự cung khai với cảnh sát coi đó như một việc đền tội đó sao? Cha Mockaitis hỏi lại: ích lợi nào lớn hơn ích lợi nào? Ích lợi phần hồn của hối nhân hay chứng cớ để buộc tội một cá nhân? Theo cha, dù an toàn của các công dân là điều chủ yếu đối với công ích, nhưng thử hỏi há không có những cách khác vừa hợp đạo đức vừa hợp pháp để tìm bằng chứng hay sao, ngoài việc xâm phạm tới niềm tin cậy thánh thiêng vốn có trong bí tích? 

Các nhà chấp pháp từng khai triển ra vô số cách thức để tìm bằng chứng để kết tội hay thanh minh cho một cá nhân, đâu cần phải dùng việc nghe lóm cuộc đàm thoại giữa linh mục và hối nhân làm một phương pháp điều tra. Về việc đền tội, mục đích của đền tội là đền bù các thiệt hại do tội gây ra, nên hối nhân có thể nhận thấy việc tự thú với nhà cầm quyền là một cách thích hợp để được tha thứ. Nhưng nếu một cá nhân đến với bí tích một cách có chuẩn bị và thành thực tìm kiếm hòa giải, thì linh mục buộc phải tiến hành bổn phận với tư cách mục tử linh hồn, chứ không với tư cách cảnh sát. 

Vả lại khuyên hối nhân tự thú với cảnh sát khác xa với việc đem điều hối nhân nói với linh mục tường trình cho cảnh sát. Hối nhân nói hay không là quyền tự do của họ. Lúc ấy không còn là việc của bí tích nữa. 

Cha Mockaitis cho rằng truyền thông cũng hiểu điều đó, nên vụ việc này được họ theo dõi khá nhiều. Tuy nhiên, phản ứng của quảng đại quần chúng có phần mạnh mẽ hơn nhiều. Nói chung, họ ngỡ ngàng, phẫn nộ, cảm thấy bị lăng nhục và sợ cho người có đức tin bị người ta hạ nhục. Người thiện chí biết rằng đây không phải chỉ là vấn đề riêng cho người Công Giáo, hay cho bí tích mà thôi, mà đúng hơn là vấn đề bảo vệ hiến quyền về lâu về dài. 


Nguồn: Vietcatholic
Chuyên mục: ,
Bài Viết Cũ Hơn

Ý kiến bạn đọc [ 0 ]


Gửi lời bình luận

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.